Thứ Bảy, 20/09/2014 | 15:41 GMT+7
Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ |

Vì sao người ta lại ăn bỏng ngô ở rạp chiếu phim?

Bỏng ngô là món đồ ăn phổ biến nhất tại các rạp chiếu phim trên toàn thế giới nhưng để có được kết quả ấy, nó đã phải trải qua hành trình dài…

 041b7459-e4aa-4897-bf2b-20033c41d414

Ngày nay, bạn sẽ rất thường xuyên bắt gặp hình ảnh: chúng ta đến rạp chiếu phim, mua vé, sau đó mua một phần bỏng nước trước khi vào phòng chiếu thưởng thức bộ phim. Trong một chiến dịch khảo sát hành vi người tiêu dùng, hãng nghiên cứu thị trường Mỹ IDC đã đưa ra số liệu: 87,5% số người đến rạp chiếu phim thường xuyên mua bỏng + đồ uống nhẹ (soft drinks). Kinh doanh mặt hàng này mang lại lợi nhuận khổng lồ cho các rạp chiếu. Câu hỏi đặt ra là: từ khi nào, bỏng ngô đã đi kèm và trở thành một phần tất yếu của các bộ phim ?

Đã có thời bị cấm cửa

Không phải ngay từ đầu bỏng ngô và rạp chiếu phim đã “đến được với nhau”, thậm chí có thời điểm, việc kinh doanh mặt hàng siêu lợi nhuận này còn bị cấm ở các rạp phim tại Mỹ. Đó là thời điểm đầu thế kỷ 19, khi món bắp rang bơ mới được phát minh. Cây ngô xuất hiện tại châu Mỹ khoảng hơn 8000 năm trước, nhưng mãi cho đến giữa thế kỷ 18, những người Trung Mỹ mới lần đầu tiên nghĩ ra cách trộn bơ, đường, muối chiên cùng với hạt ngô để thành món bắp rang bơ.

Một xe bán bỏng ngô lưu động trên đường phố Illinois, Mỹ năm 1912

Món bắp rang bơ nhanh chóng trở nên phổ biến ở Bắc Mỹ. Đến năm 1848, từ “popcorn” trở nên thông dụng đến nỗi được đưa vào Từ điển Anh-Mỹ và được chú giải là một món ăn nhanh. Bỏng ngô phát triển bùng nổ từ năm 1885, thời điểm nhà phát minh Charles Cretor sáng chế ra chiếc máy làm bỏng ngô di động chạy bằng hơi nước đầu tiên. Từ đó, ở bất cứ nơi vui chơi giải trí công cộng nào như rạp xiếc, hội chợ, triển lãm cũng tìm thấy một vài xe bán bỏng ngô. Nhưng như đã nói, chỉ có một địa điểm mà bỏng ngô không được phép xuất hiện: rạp chiếu phim.

Chính vì sợ bỏng ngô làm bẩn thảm và đa số thời đó nhà làm phim chỉ sản xuất phim câm nên họ không muốn người xem mất tập trung chỉ vì bỏng ngô

Bỏng ngô và rạp chiếu – gian nan hành trình đến với nhau

Rồi cũng đến lúc ông chủ các rạp phim phải thay đổi quan điểm. Năm 1927, phim có tiếng động ra đời. Rạp chiếu phim không còn là chỗ dành riêng cho giới trí thức biết chữ nữa. Đến năm 1930, số lượng khán giả trung bình đến các rạp chiếu phim tại Mỹ đạt ngưỡng 90 triệu mỗi tuần. Điều đó mở ra một thị trường tiềm năng khổng lồ cho việc bán các sản phẩm đi kèm trong rạp chiếu phim.

Nhưng cơ hội vàng gắn kết rạp chiếu phim với món bỏng ngô chỉ thực sự mở ra trong thời kỳ Đại Suy thoái năm 1933. Kinh tế khó khăn khiến tivi trở thành một vật phẩm xa xỉ, người Mỹ đổ dồn đi tìm kiếm một hình thức giải trí tương tự nhưng rẻ tiền hơn, đó là đến các rạp chiếu phim. Cùng vì lí do giá cả, bỏng ngô trở thành món ăn được ưa chuộng nhất, so với một số món ăn nhanh khác như khoai tây chiên hay bánh hamburger. Với mức giá từ 5 – 10 cent, bỏng ngô rẻ chỉ bằng 1/3 khoai tây chiên và 1/5 hamburger.

Bắp rang bơ và đồ uống nhẹ đang dần trở thành bạn thân của nhiều khán giả khi đến rạp

Ngành công nghiệp sản xuất đồ ăn nhanh – trong đó có bỏng ngô – ra đời giữa những năm 1930. Một chuỗi rạp chiếu phim tại Dallas đã lắp đặt các máy bán bỏng ngô tại 80 rạp trong hệ thống. Chiến tranh Thế giới thứ 2 nổ ra càng củng cố sự gắn bó bền chặt giữa bỏng ngô với rạp phim. Sự thiếu hụt nguyên liệu sản xuất do chiến tranh khiến ngành công nghiệp sản xuất bánh ngọt, nước giải khát và một số đồ ăn nhanh khác bị đình đốn.

Đến năm 1945, hơn một nửa lượng bỏng ngô tiêu thụ hàng năm tại Mỹ được bán ra tại các rạp chiếu phim. Các chủ rạp bắt đầu đẩy mạnh quảng cáo cho mặt hàng này vào đầu, cuối, và thậm chí là vào giữa bộ phim. Một trong những quảng cáo tiêu biểu của nó ra đời năm 1957, có tên là “Hãy nhanh chân tới tiền sảnh” (nơi bày bán bỏng ngô).

Năm 2000, đoạn quảng cáo trên đã được Thư viện Quốc hội Mỹ đưa vào lưu trữ như một giá trị văn hoá và lịch sử tiêu biểu của quốc gia này.

Trải qua thăng trầm

Giống như nhiều ngành khác, sau giai đoạn tăng trưởng “nóng” là đến sự sụt giảm doanh số bán hàng. Những năm 1960 chứng kiến sự sa sút của ngành công nghiệp sản xuất bỏng ngô. Sự lên ngôi của truyền hình, với các máy tivi giá rẻ, làm giảm bớt nhu cầu ra ngoài xem phim của người Mỹ. Trong khi đó, bỏng ngô lại là một thứ quá khó để có thể chế biến tại nhà, khi nguyên liệu của nó đòi hỏi phải có máy làm bỏng ngô, dầu ăn, bơ, muối, đường và một vài nguyên liệu khác tạo mùi đặc trưng, thứ chỉ có ở các rạp chiếu phim. Sau khi xuất hiện một vài sản phẩm máy chế biến bỏng ngô, đến năm 1970, chức năng làm bỏng ngô được tích hợp trong lò vi sóng, và các hộ gia đình đã có thể tạo ra những suất bỏng ngô rang tuyệt ngon tại nhà. Nordmende, một công ty Điện của Đức thậm chí còn dùng chức năng làm bỏng ngô như chiến lược quảng bá thương hiệu chính cho sản phẩm của họ.

Bắp rang bơ hiện là nguồn lợi nhuận dồi dào cho các rạp chiếu phim

Ngày nay, bỏng ngô là phần không thể thiếu tại các rạp chiếu phim. Món ăn này đem lại lợi nhuận lớn cho các rạp (chiếm 46% doanh số một rạp chiếu phim tầm trung). Bất chấp sự xuất hiện của nhiều món ăn khác tại rạp, địa vị thống trị của món bỏng ngô sẽ còn lâu nữa mới bị thay thế. “Bỏng ngô là thức ăn rẻ nhất bạn có thể mang vào rạp. Với nhiều người, nó thậm chí đã trở thành thói quen, một thứ quán tính: cứ đến rạp là họ sẽ mua bỏng ngô”, ông Hamid Hashemi, giám đốc điều hành cụm rạp hạng sang iPic Theaters nhấn mạnh.

 

 Theo ringring